Tự giới thiệu

My photo
Đặng Bá Tiến

Tuổi Nhâm Thìn. Quê Xứ Nghệ
Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam
Hội viên Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam
Hiện là PV Báo Lao Động tại Tây Nguyên

Categories
Các chủ đề gần đây nhất
Các góp ý gần đây
lưu trữ
liên kết cá nhân
Chung
Lịch
« January 2012 »
Su Mo Tu We Th Fr Sa
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
Xuất bản tin
  • RSS 0.90
  • RSS 1.0
  • RSS 2.0
  • Atom 0.3
Trạng thái của blog
  • Tổng số bài viết: 147
  • Tổng số góp ý: 501
  • Tổng số trackbacks: 0
  • Tổng số lượt xem bài: 13.219
Thơ Xuân 2012

 

Thơ Đặng Bá Tiến

RỄ

                                                      Hoa mai1.jpg, 81 KB

Biết bao người ca ngợi mùa xuân

Với lá tơ non, hoa trăm màu khoe sắc

Rễ tảo tần nuôi lá hoa từ ruột đất

Có bao giờ được nhận một lời khen

                     Sáng Mùng 6 Tết Nhâm Thìn

 #

Thơ Xuân 2012

Đặng Bá Tiến

THƠ XUÂN TẶNG ĐOÀN VĂN VƯƠN

 Hoa xuong rong2.jpg, 73 KB

anh không phải là thú hoang

nhưng chúng đã dồn anh vào bước đường cùng

buộc anh phải gầm lên

như con thú hoang tội lỗi

 

+

 

khi công lý đã biến màu

như kỳ nhông giả dối

tia hy vọng cuối cùng

đốm lửa cuối cùng về niềm tin đã bị bóng tối bủa vây

khi những nhân danh đã trở thành son phấn

thánh thần lộ tim đen sau lớp mặt nạ dày

khi sự nghiệp cả đời đã trở thành mây khói

thì tù đày nghĩa lý gì đâu

cả thân xác cũng chỉ là cát bụi

anh thà hy sinh hơn sống phải cúi đầu

 

và mìn nổ

và tất nhiên

máu đổ

và tù đày

tan nát cả mùa xuân

tan nát cả gia đình tổ ấm

nhưng tiếng súng của anh

đã trở thành tiếng sấm

xé toạc bóng đen

xé toạc những mặt dày

xé toạc những liên minh ăn cướp ban ngày

lột trần những nhân danh ma quái

 

sẽ còn mãi cái ngày Tiên Lãng ấy

cái ngày đất đai cũng nổi sóng bất bình

cái ngày đất đai bị cầm tù oan trái

cái ngày đất đai bị phỉnh phờ lừa dối

cái ngày đất đai bị đầu độc bởi quan tham

 

sẽ còn mãi cái tên Đoàn Văn Vươn

vụ án Đoàn Văn Vươn

sự kiện Đoàn Văn Vươn trong lịch sử

sẽ còn mãi giữa lòng dân một niềm tin bất tử

rằng đất đai không thể cầm tù

rằng cục đất hiền cũng biết mọi mưu mô

đè nén lắm đất cũng thành trái nổ…

 

                                Đêm mùng 2 Tết Nhâm Thìn

 

 

 #

THƠ MỚI SÁNG TÁC

Thơ Đặng Bá Tiến

 382619-My son.jpg, 107 KB

MỸ SƠN

 

mây núi cũng lặng thầm quần tụ

âm dương như gặp gỡ nơi này

không gian u ẩn lời kinh nguyện

đất vọng điều chi dưới cỏ dày

 

gạch vỡ cũng vấn vương bịn rịn

rêu xanh như đính những giọt hồn

vẫn thấy đâu đây bên tháp đổ

người xưa trong cánh bướm dập dờn

 

vẫn thấy đá đa tình ánh mắt

Chăm nữ xưa sắc thắm đến giờ

và Siva thướt tha múa lượn

bờ vai trần muôn thuở như mơ

 

+

về Mỹ Sơn thu đã cuối mùa

                                gió liêu trai mắc bùa Chăm nữ

                                mãi vuốt ve từng viên gạch vỡ

    mãi thì thầm chuyện với ngàn xưa

                 Đêm 20.9.2011

 

 

 

 #

NHIẾP ẢNH NGHỆ THUẬT

NƠI HỘI TỤ NHỮNG KHOẢNH KHẮC VÀNG

TẤN VỊNH

Triển lãm ảnh nghệ thuật Nam miền Trung - Tây Nguyên tổ chức tại Quảng trường 24-3 (thành phố Tam Kỳ) chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XX thực sự là nơi hội tụ những khoảnh khắc vàng.

Triển lãm do Sở VH-TT&DL và UBND thành phố Tam Kỳ phối hợp tổ chức được sự bảo trợ của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam. Triển lãm giới thiệu 100 tác phẩm của 63 hội viên Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam đang sinh hoạt tại các Chi hội thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và Đắc Nông.

alt
Vòng xoay ngày hội (MINH ĐỨC).

Sau khi tổ chức lần đầu tại tỉnh Bình Định vào thời điểm Việt Nam đăng cai Đại hội Liên đoàn Nhiếp ảnh quốc tế (FIAP) lần thứ 30, đến lần này, tỉnh Quảng Nam thực hiện cuộc triển lãm và tiếp theo sẽ lần lượt giới thiệu đến công chúng tại các tỉnh khác trong khu vực. Những năm qua, nhiếp ảnh khu vực Nam miền Trung - Tây Nguyên đạt nhiều thành tựu ngoạn mục, đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế. 

alt
Mặt nạ (HƯƠNG VƯỢNG).

Tuy nhiên, các tác phẩm và tác giả của nó chưa được tập hợp và có dịp giới thiệu đầy đủ đến với công chúng yêu nghệ thuật trong khu vực. Để có một cái nhìn khái quát về tiềm năng, thành tựu nhiếp ảnh và đưa tác phẩm đến với cuộc sống, Chi hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh các tỉnh trong khu vực đã có sáng kiến tổ chức cuộc triển lãm này.

alt
Duyên dáng festival (LÊ BU).

Ngoài một số tác phẩm quen thuộc của các nghệ sĩ nhiếp ảnh xứ Quảng, công chúng lần đầu tiên được thưởng thức những tác phẩm nhiếp ảnh chất lượng cao, thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật đa dạng, đậm đà chất nhân văn của các nhà nhiếp ảnh trong khu vực.

alt
Điện lên vùng cao (ĐẶNG BÁ TIẾN)

Nhiều tác giả nổi danh trong làng nhiếp ảnh quốc gia và quốc tế như Đào Tiến Đạt, Phạm Văn Chai, Ngô Thanh Bình (Bình Định), Trần Phong, Phạm Dực, Hùng Hoa Lư, Ngô Huy Tịnh (Gia Lai), Đào Thọ, Vương Quốc Kim, Phạm Huỳnh, Hương Vượng, Đặng Bá Tiến, Bảo Hưng (Đắc Lắc), Võ Văn Cậy, Lê Minh, Tào Hòa, Trịnh Dũng, Đào Quang Minh (Khành Hòa), Dương Thanh Xuân, Lê Minh, Lê Châu Đạo (Phú Yên).

alt
Nắng chiều (HỒ XUÂN BỔN).

Nhiều tác phẩm trong triển lãm này đã được Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam  tuyển chọn để triển lãm tại Hà Nội phục vụ đại biểu dự Đại hội FIAP và đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

alt
Vũ điệu mặt trời (VƯƠNG QUỐC KIM).

 

alt
Tế thần (ĐÀO THỌ).

TẤN VỊNH

 #

THƠ MỚI

Thơ Đặng Bá Tiến

(In Tạp chí Sông Hương số 272 Tháng 10.2011)

 

TRỞ LẠI RỪNG XƯA

Khop1cp.jpg, 157 KB 

Rừng xưa, giờ đã đi đâu

Hỏi ai đây giữa ngàn lau bạc đầu?

Ngàn lau xao xác u sầu:

Rừng xưa đã hóa nỗi đau nhân tình…

+

Về đây tôi gặp lại mình

Thời đa đoan với bóng hình Bản Đôn(*)

Cái thời chim rót vào hồn

Lời ca ngọt lịm khi còn sương mai

 

Cái thời công múa cùng nai

Lá xanh giăng tán thành hai tầng trời

Tôi như đứa bé trong nôi

Nằm nghe cây hát những lời đung đưa

Thấy trong hoa lá chuyển mùa

Rừng đang xao xuyến như vừa biết yêu…

+

Giờ tôi ngỡ lạc giữa chiều

Rừng xưa khuất bóng… Bao điều ngẩn ngơ:

Cây thành mây khói bao giờ

 Suối gương nay đã đục mờ, lặng trôi

Nai, công hồn đã về trời

Người đời hóa kiếp cả lời chim ca…

 

Tôi ngồi thương cội hương già

Ngỡ cưa còn siết trên da thịt mình!

            BMT 6.8.2011

 

(*) Bản Đôn thuộc tỉnh Đắc Lắc, cách đây 10 năm vẫn còn nhiều cánh rừng  nguyên sinh nổi tiếng, nay đã bị tàn phá tan hoang (chú thích của tác giả).

 #

THƠ MỚI SÁNG TÁC

Thơ Đặng Bá Tiến

KIẾP SAU

ThacDraynu1.jpg, 155 KB 

Kiếp sau!

Em hẹn kiếp sau

Lời em liệu có qua cầu gió bay?

Như bao người ở kiếp này

Thề non hẹn biển rồi mây khói tàn...

            

Kiếp sau

Còn có nhân gian?

Kiếp sau người có đa đoan với người?

Kiếp sau còn đất? còn trời?

Yêu nhau người có trao người nụ hôn?


Kiếp sau

Ly biệt có buồn?

Biển sầu có dựng cánh buồm tương tư?

Kiếp sau còn có mùa thu

Cho ai ngồi đợi phong thư lá vàng?

+

Đời người

Bao chuyến đò ngang

Và bao người phải lỡ làng phận, duyên

Đành trao nhau chút ảo huyền:

Kiếp sau nguyện ước chung thuyền người ơi…

 

                           Đêm 7.10.2011

 

 

 

 #

PHÓNG SỰ ẢNH

TRẺ TÂY NGUYÊN CHƠI

Ảnh của Đặng Bá Tiến, đăng Báo Lao Động Cuối tuần Thứ Sáu, 9.9.2011

Chơi là một nhu cầu hết sức quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em. Thế nhưng ở nhiều vùng sâu, vùng xa Tây Nguyên việc chơi của các em gần như không ai để ý.

Các em nghĩ ra trò gì, thích gì thì cứ việc chơi. Cũng có những trò khá vui vẻ, lành mạnh, như làm cái xe bằng bánh gỗ rồi thay nhau ngồi lên xe, thay nhau kéo hoặc lấy cái xe bánh lốp dùng kéo gỗ, củi của bố mẹ để kéo nhau trên đường làng làm thú vui .
Các em nghĩ ra trò gì, thích gì thì cứ việc chơi. Cũng có những trò khá vui vẻ, lành mạnh, như làm cái xe bằng bánh gỗ rồi thay nhau ngồi lên xe, thay nhau kéo hoặc lấy cái xe bánh lốp dùng kéo gỗ, củi của bố mẹ để kéo nhau trên đường làng làm thú vui .

Lại có những em chơi “kinh dị” hơn, nguy hiểm hơn, như ra bờ sông lấy bùn bôi thành cái máng trượt, đồng thời bôi bùn lên khắp người rồi ôm nhau trượt theo máng bùn để cười một cách thích thú .
Lại có những em chơi “kinh dị” hơn, nguy hiểm hơn, như ra bờ sông lấy bùn bôi thành cái máng trượt, đồng thời bôi bùn lên khắp người rồi ôm nhau trượt theo máng bùn để cười một cách thích thú .

Hoặc thi nhau đứng trên bờ đất cao nhảy xuống sông tìm cảm giác mạnh
Hoặc thi nhau đứng trên bờ đất cao nhảy xuống sông tìm cảm giác mạnh

Có những em chẳng biết chơi gì ngoài việc hái quả xanh, cùng nhau ngồi bệt trên mặt đất chấm với muối ăn
Có những em chẳng biết chơi gì ngoài việc hái quả xanh, cùng nhau ngồi bệt trên mặt đất chấm với muối ăn

Có những đứa trẻ ở nhà giữ em
Có những đứa trẻ ở nhà giữ em


 #

BÀI VIẾT MỚI VỀ NHIẾP ẢNH CỦA ĐẶNG BÁ TIẾN

Vương Quốc Kim: 15 năm khẳng định một tên tuổi…

  Bài đã đăng Báo Lao Động cuối tuần số 31/2011 ra ngày 12.8.2011

 

Kỷ niệm 15 năm đến với nhiếp ảnh nghệ thuật, NSNA Vương quốc Kim (Đắc Lắc) đã cho ra mắt cuốn sách ảnh đầu tay tại Hong Kong (Trung Quốc) mang cái tên giản dị “Vương Quốc Kim Photo Album”. Cuốn sách chỉ giới thiệu 35 bức ảnh, trong số hàng trăm bức ông đã sáng tạo. Nhưng chỉ ngần ấy thôi, đã đủ để khẳng định tên tuổi của ông trong “làng” ảnh nghệ thuật Việt Nam.

Làm nghề ảnh từ tuổi thiếu thời, những mãi đến năm 1996, lúc đã 56 tuổi, ông mới đến với nhiếp ảnh nghệ thuật và liền đoạt ngay các giải thưởng cao: Huy chương vàng, bạc của Liên đoàn nghệ thuật nhiếp ảnh quốc tế (FIAP) bằng các tác phẩm Chồi, Mẹ M’nông. Kể từ đó đến nay, năm nào ông cũng “hái được quả ngọt” từ các cuộc thi ảnh trong và ngoài nước, nhiều nhất là các cuộc thi ảnh quốc tế, khiến cái tủ kính rộng hơn 2 m2 dùng để trưng bày các huy chương, cup, bằng chứng nhận của ông chật ních. Thống kê chưa đầy đủ, đến nay ông đã đoạt tới 216 giải thưởng nhiếp ảnh, trong đó có hơn 40 huy chương vàng, cup vàng của FIAP, Việt Nam và các tổ chức nhiếp ảnh quốc tế thuộc các nước và vùng lãnh thổ như Mỹ, Nhật, Úc, Singapo, Đức, Pháp, Brazin, Canada, Hông Kông, Macao, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Croattia, Trung Quốc… Không chỉ được công nhận là NSNA Việt Nam mà ông còn được tôn vinh là NSNA danh dự xuất sắc của 8 tổ chức nhiếp ảnh nước ngoài. Vì vậy, nói đến cái tên Vương Quốc Kim thì hầu hết “dân chơi” ảnh nghệ thuật ở Việt Nam không mấy người không biết. Có thể nói, bây giờ ông đã là một “tay máy vàng” của nhiếp ảnh Việt Nam.

Đến với nhiếp ảnh, ông là người rất tự hiểu mình: Chỉ mạnh ở thể loại chân dung, nhất là chân dung trẻ em, người già, nên ông “một nắng hai sương, chăm chỉ cày sâu cuốc bẫm” trên “cánh đồng” thế mạnh của mình, ít khi ông nhảy sang thể loại khác. Ảnh chân dung của ông hễ nhìn là “bắt mắt” ngay, bởi cái thần của nhân vật nó lồ lộ qua ánh mắt, nét mặt, cử chỉ và đôi khi chỉ là giọt lệ nơi khóe mắt, hoặc đang lăn dài trên gò má… Ông rất khéo léo và cẩn trọng trong xử lý chi tiết, tông màu, ánh sáng khi chụp, khi làm buồng tối (thời còn chụp bằng phim nhựa), hoặc bằng phần mềm photoshop (hiện nay) để làm nổi bật điều ông mong muốn. Vì thế ảnh của ông thường “sạch”, không rườm rà chi tiết, rất hiếm khi có chi tiết thừa.

Không chỉ làm ta bị “bắt mắt” cuốn hút không thôi, mà ảnh của ông còn gây cho ta  cảm xúc mạnh ngay khi mới nhìn; và ta dễ dàng nhận ra vấn đề tác giả muốn nói mà không phải cần đến quá trình “đọc ảnh” mới hiểu tác phẩm. Ông quan niệm ảnh nghệ thuật là loại hình nghệ thuật trực giác, có bổn phận mang đến cho người xem những cảm xúc thẩm mỹ, nhân văn; và vì vậy ảnh phải bắt mắt cuốn hút người xem, thông điệp của bức ảnh phải rõ ràng. Xem bức ảnh Mẹ và bé ta không chỉ bị cuốn hút bởi cái thần toát ra từ đôi mắt đứa bé trong trẻo, thơ ngây, xinh xắn, khỏe mạnh, đôi mắt của người mẹ nhìn con tràn đầy âu yếm, yêu thương, tự hào, mà còn thấy rộng ra vẻ đẹp của xã hội, của cuộc đời, thấy được cả tương lai dân tộc. Hay như bức Đôi bạn già ta thấy niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt của hai bà mẹ dân tộc thiểu số Tây Nguyên, già nhưng không sầu bi, già những vẫn vui sống trong tình thương yêu của bạn bè đồng loại, già những vẫn tin tưởng ở cuộc sống hôm nay và ngày mai… Qua bức ảnh này ta còn thấy được cả phong tục tập quán, bản sắc văn hóa của một vùng đất đầy yêu thương và đầy hấp dẫn của Tổ quốc chúng ta…

Khác với nhiều người khi chụp ảnh người già dân tộc thiểu số Tây Nguyên thường thiên về khai thác nét nhăn nheo, khắc khổ, lạ lùng trên khuôn mặt, hay vóc dáng của họ, Vương Quốc Kim chủ yếu tìm đến những khoảnh khắc vui tươi nhất, như bà đang nựng cháu, vui đùa với cháu, các cụ già đang chuyện trò thân mật với nhau, đang cùng uống rượu cần, hoặc đang ở những giây phút thăng hoa của tâm hồn… Và vì vậy dù là chụp ảnh người già nhưng ảnh của ông bao giờ cũng có hậu, thấy niềm tin, thấy sự tiếp nối và tương lai mở ra rộng dài phía sau bức ảnh.

Ông cũng là người có quan điểm nhiếp ảnh khác với nhiều đồng nghiệp. Khi nhiều người cho rằng nhiếp ảnh là nghệ thuật của khoảnh khắc, phải hết sức tôn trọng khoảnh khắc, nhưng Vương Quốc Kim lại cho rằng: Chỉ nhiếp ảnh báo chí mới cần tôn trọng khoảnh khắc. Nhiếp ảnh nghệ thuật cần nhất là phải xây dựng được hình tượng có tính thẩm mỹ cao. Và vì vậy người nghệ sỹ có quyền mời người mẫu, dựng cảnh, miễn sao cách bài trí, dựng cảnh không phi thực tế…

Phải chăng từ quan niệm đó cùng với niềm đam mê sáng tạo, liên tục đi săn ảnh khắp các buôn làng Tây Nguyên không hề biết mệt mỏi (dù năm nay đã 72 tuổi) đã giúp ông thành công, khẳng định được tên tuổi của mình trong “làng” nhiếp ảnh nghệ thuật Việt Nam.

Một số tác phẩm của NSNA Vương Quốc Kim:

alt
Bà và cháu
 
alt
Cùng thưởng thức
 
alt
Đôi bạn già
 
alt
Mẹ và bé
 
alt
Giọt nước mắt hạnh phúc
 
 #

THƠ MỚI SÁNG TÁC

Thơ Đặng Bá Tiến

GỬI NGƯỜI PHƯƠNG XA

 alt

Cầu vồng xưa, ta chung ngắm trong chiều

Đâu còn nữa trên bầu trời mơ mộng

Vầng trăng tròn xưa, cho ta chung hy vọng

Về một mối tình viên mãn đẹp như mơ

Vầng trăng xưa, cũng ngủ tự bao giờ

Chỉ còn lại trái sầu trôi vô định…

Giờ ta biết nói gì về cơn gió lạnh

Cứ tái tê trong giấc mộng đêm hè

Ta biết nói gì… khi đã hóa loài ve

Gào rỗng ruột mà người nghe hờ hững

Biết nói gì hơn về một thời gió lộng

Ta chia nửa trái tim làm một cánh diều

Rồi diều rơi nửa trái tim cũng mất

Nửa bây giờ mãi thổn thức phiêu diêu!

Ta biết không tìm lại được cánh diều

Nhưng chiều đến vẫn ngóng trời mộng ước

Người ở phương xa nhìn hoàng hôn có biết

Ánh chớp cuối chân trời là ánh mắt ta mong...

 

                                 Đêm 12.8.2011

 

 

 

 #

THƠ MỚI SÁNG TÁC

Thơ

ĐẶNG BÁ TIẾN

 

GIÁ NHƯ…

alt

giá như ngày ấy sông Cầu

không xanh đến mức đổ sầu cho ai

và người không thả tóc mai

che hờ ánh mắt liêu trai ghẹo người…

 

giá như ngày ấy ông trời

dẫn hai người tới hai nơi cách trùng

thì đâu có chuyện tao phùng

để rồi nhớ mãi một vùng cỏ non

 

giá như trái đất không tròn

đường tình không có lối mòn gặp nhau

thì ta như thể ngàn lau

phất phơ với gió nào đâu biết sầu

 

giá như ngày ấy sông Cầu

người đi để lại một câu hẹn hò…

 

                           Đêm 28.7.2011  

 

 

 

 

 

 #

THƠ MỚI SÁNG TÁC

Thơ Đặng Bá Tiến

 

TÌM EM

alt

Tìm em

chỉ thấy nỗi niềm

một thời héo rụng bên thềm xanh rêu

biết bao sợi chỉ tình yêu

tôi nào thêu được cái điều ước mong

 

 

Tìm em

lúc nước đã ròng

người đà  mắc cạn bên dòng nhân duyên

cậy vầng trăng khuyết làm thuyền

chở giùm xa xót đổ lên bãi sầu

 

 

Tìm em

nào biết nơi đâu

một đời giăng lưới buông câu đi tìm

mồi câu bằng cả trái tim

mà sao tăm cá bóng chim mịt mờ

 

 

Tìm em

tìm đến bao giờ

đời tôi rụng hết giấc mơ... còn tìm!

 

                  BMT đêm 12.7.2011

(Bài này đã được giới thiệu trên nguyentrongtao.org)

 

 

 

 

 

 

 #

BÀI VIẾT MỚI

Đọc Ngày linh hương nở sáng*

             MẤY CẢM NHẬN VỀ THƠ ĐINH THỊ NHƯ THÚY

                                                                Đặng Bá Tiến

 

       Đây là tập thơ thứ ba của Đinh Thị Như Thúy, một trong những cây bút thơ nữ đang gây được chú ý trên thi đàn hiện nay. Vẫn là lối thơ, mạch thơ đã có ở tập thơ trước của chị (Phía bên kia cây cầu): Hình như khi làm thơ chị không quan tâm nhiều đến tứ thơ mà chỉ quan tâm đến những nỗi niềm, những cảm xúc và chị kể, chị giãi bày bằng một lối viết miên man suy cảm, lớp lớp hình ảnh khi trực diện, khi mờ ảo xa xôi, theo nhiều kiểu cấu trúc, có khi theo trục tuyến tính từ quá khứ đến hiện tại, từ thực tế đến ý tưởng, có khi là sự đồng hiện giữa hữu hình và vô hình, giữa ý thức và vô thức, với rất nhiều liên tưởng giao thoa, “chồng sóng”; từ đó lảy ra, gợi ra những điều mà chị đang băn khoăn, trăn trở và ai đó có thể cùng thông cảm, sẻ chia. 

                                                   +

     Có lẽ vì cách viết đó, nên một người bạn thơ của tôi vốn chỉ yêu thơ truyền thống, đọc thơ chỉ thích ngâm nga để tìm khoái cảm qua âm thanh và những ý tứ rõ ràng, sau khi đọc thơ của Đinh Thị Như Thúy đã nói: -Đọc thơ Đinh Thị Như Thúy mệt lắm, vì phải đuổi theo cảm xúc và ý nghĩ của chị và rồi có nhiều bài đọc xong chẳng hiểu gì…

      Thực ra thơ Đinh Thị Như Thúy rất tinh tế trong cảm xúc, trong cách dùng từ ngữ và điều chị muốn nói, muốn chuyển tải đều ẩn dưới bề mặt bài thơ như những “mạch ngầm”. Chỉ những ai đã “bắt” được “mạch ngầm” của lối viết đó và nhận ra sự kín đáo ngỡ như mơ hồ trong cách gửi gắm thông điệp của chị mới thấy thú vị để mà đọc một cách cẩn thận, có dụng công. Ở ngay bài thơ đầu tiên của tập thơ có tựa đề Cõi ảo, ta thấy chị viết như là giãi bày tâm trạng về những ngày đang sống ở một phố huyện, cũng ngỡ chỉ là những chuyện của đời thường giản đơn: “Mơ hoài ngày hôm qua, thêu dệt hoài kỷ niệm”, “tự huyễn hoặc mình”, rồi tự dẫn dụ mình vào “xứ sở của Alice”… Cảm giác như đó là tâm trạng của một cô gái đang tuổi lớn, đang yêu, đang buồn vì những chuyện không đâu và tự giải buồn bằng những… cổ tích, thần thoại. Nhưng càng đọc, ta mới vỡ ra: Không phải vậy. Đấy thực sự là tâm trạng của một người đã từng trải, đã có thời gian để chiêm nghiệm về cuộc sống và vì vậy đang nhàm chán về những điều lặp đi lặp lại, về những tù túng trong cuộc sống thực tại. Bởi sự lặp lại liên tục mang tính bắt buộc của bao chuyện, bao điều trong cuộc sống, sự tù túng của vô vàn định chế lạc hậu sẽ giết chết những sáng tạo mới mẻ: “Như một bài hát cũ tình yêu có quá nhiều điệp khúc, sự láy lại các giai điệu buồn làm chết dần màu xanh của lá…”. Chị muốn thoát ra khỏi nó nhưng nào có dễ. Nhưng chị tự biết và khẳng định: “Dẫu vẫn ngần ngại, nhưng để thoát khỏi bóng tối nở bung là con đường nụ hoa phải đi”. Đấy chính là một thông điệp về cuộc sống, về bản lĩnh sống mà bài thơ đưa đến cho người đọc.

 

       Với lối viết hiện đại, mới mẻ, câu chữ cứ chảy lênh loang theo dòng cảm xúc, theo ý nghĩ, cứ ngỡ Đinh Thị Như Thúy chẳng mấy quan tâm đến sự đời đang ồ ạt, xô bồ hiện nay (với biết bao biến thái khôn lường về đạo đức xã hội, nhân tình thế thái, các thang bậc giá trị của đời sống…). Nhưng nào phải vậy. Đinh Thị Như Thúy không ồn ào trên bề nổi của ngôn từ, nhưng từ trong đáy sâu của câu chữ ta vẫn thấy một người thơ thao thức vì: “Hoài nghi, đáng sợ nhất là hoài nghi, đáng sợ nhất là không xác định được phương hướng, đáng sợ nhất là không biết nên làm hay không nên làm, nên đi hay không nên đi, nên gọi hay không nên gọi”, “rồi thấy mình ngốc nghếch thấy mình thừa thãi, thấy mình chán mình…muốn thu mình vào một nơi nào đó để khóc, muốn ngủ luôn một giấc dài để không bao giờ dậy nữa…”(Krông Pak, tháng mười một ngày mười ba). Như thế thì người thơ này không chỉ thao thức mà ta thấy còn rũ rượi, vật vã đến mức ê chề, đến chán cả mình và chán cả sống. Vì sao thơ chị có tâm trạng đó? Phải chăng là những ngang trái trong đời, những giả dối trong ứng xử hàng ngày, những tù túng ngột ngạt của những khuôn mẫu lỗi thời đang hiện hữu, nhan nhản khắp mọi nơi và đáng sợ hơn nó đang trở thành phổ biến trong đời sống? Điều đó cho ta thấy thơ Đinh Thị Như Thúy không mông lung trong cái tôi như ai đó từng nghĩ; không buông lời thả chữ, làm xiếc ngôn từ để tìm sự cao siêu mới mẻ một cách vô hồn, vô thức.

       Tinh tế trong cảm xúc và cách giãi bày ấy là thế mạnh của Đinh Thị Như Thúy. Ngày linh hương nở sáng viết về “thời khắc thật sự đớn đau/ khi bạn/ chối từ cuộc sống” vì cơn bạo bệnh, Đinh Thị Như Thúy có những câu thơ xa xót “không giống ai”: “Tôi mang cảm giác chảy trôi/ như nước/ mất hút dưới những kẽ tay…”. Đây là cách nói rất riêng của Đinh Thị Như Thúy. Trong bài “Có phải tất cả kiếm tìm đều như thế” – một trong những bài thơ hay của tập thơ - chị tâm sự cùng bạn, giãi bày cùng ta về những quan niệm sống, hay là chọn cách sống, cách ứng xử giữa “Thế giới của những giấc mơ và những bông hoa độc”, quả là đầy khó khăn, rất khó lường, có khi thất bại, có khi phải chấp nhận nó như là Vũ – một người thơ (xuất hiện trong thơ chị) – đã phải chấp nhận. Bài thơ không dẫn ta về một quan niệm sống, một triết lý sống nào cả, nhưng đọc cứ thấy bùi ngùi về những phận người, về những gì con người không muốn mà phải chấp nhận. Đoạn cuối của bài thơ cho thấy những cảm xúc lắng đọng và đằm thắm của hồn thơ Đinh Thị Như Thúy:

                  Sáng nay rừng không bướm trắng

                  Sáng nay rừng không gió động

                  Mưa trái mùa đã rơi suốt đêm qua

 

                  Suốt đêm mưa rơi trên những hoa dại mới nảy mầm

                  Suốt đêm mưa rơi trên dự cảm những bồn chồn ly biệt…

 

       Đấy là khi Đinh Thị Như Thúy phát huy được thế mạnh của mình về cảm xúc, trải nghiệm, về cách diễn đạt sâu lắng. Còn khi chị chỉ chạy theo hình thức đơn thuần, ngôn từ không còn gắn với cảm xúc, thì ta chỉ thấy những dòng chữ trơ trọi mà chẳng thấy chất thơ ở đâu. Ví như: “Ngồi uống một lúc mấy ly nước mía. Rồi gọi điện cho thằng bạn ở Sài gòn. Nghe hỏi: Đang ở đâu? Cười. Nháy mắt trả lời: Lang thang trong rừng. Hê! Xạo kẹ đi ông. Làm đếch gì còn rừng!? Trời đất! Tây Nguyên không còn rừng thì rừng ở đâu còn nữa?”(Kể lại chuyện tháng tư năm ngoái). Có thể đây là những bài thơ mà chị đang thể nghiệm, tìm tòi. Nhưng theo tôi, chị chỉ thành công khi là chính mình - là nhà thơ Đinh Thị Như Thúy - với những câu thơ, bài thơ mà cảm xúc luôn luôn quấn quýt đến mức “ướt đẫm” ngôn từ.

 

                                                                  Buôn Ma Thuột 20.6.2011

 

  • *Ngày linh hương nở sáng, thơ Đinh Thị Như Thúy, NXB Hội Nhà văn – 2011. 
  • (Bài đã in báo Lao Động Cuối tuần 25/2011)

 

 

                    

                   

 

 #

GHI CHÉP CỦA ĐẶNG BÁ TIẾN

  CÓ MỘT NGƯỜI THƠ NHƯ THẾ

 

 Bài in BÁO LAO ĐỘNG Thứ Sáu, 1.7.2011

Bị bệnh hiểm nghèo từ lúc 3 tuổi, tay chân teo tóp, phải ngồi một chỗ trên giường, vẫn yêu đời và đặc biệt yêu thơ, lấy thơ làm niềm vui, làm chỗ dựa tinh thần để sống một cách có ích; đến nay đã viết khoảng 400 bài thơ, đã xuất bản một tập thơ và đang chuẩn bị xuất bản 2 tập nữa - đó là Huệ Nguyên - Nguyễn Văn Hợp, ở thôn Mê Linh 2, xã Buôn Triết, huyện Lắc, tỉnh Đắc Lắc...

Về Mê Linh...

Đã được đọc qua một số bài thơ của Hợp in ở Tạp chí Văn nghệ Đắc Lắc và một vài tờ báo khác, đã nghe một người bạn kể sơ qua về hoàn cảnh của Hợp, nhưng quả thực tôi vẫn chưa ấn tượng lắm về Hợp. Nhưng ngày 28.6 vừa qua, có dịp đi công tác ở huyện Lắc, tôi đã tìm đến Mê Linh thăm Hợp, từ đó, tôi mới thực sự ấn tượng, về Hợp; và không chỉ ấn tượng mà còn bị “ám ảnh”...

Tôi cũng không hiểu sao ở một nơi sơn cùng thuỷ tận, xa xôi như thế - nếu tính từ TP.Buôn Ma Thuột đến thôn Mê Linh 2 phải gần 80 cây số, còn nếu tính từ thị trấn huyện Lắc cũng gần 20 cây, mà đường đi đâu phải dễ dàng, cứ vòng vèo, leo lên tụt xuống, hết quả đồi này đến đồi khác, nhiều chỗ ngày mưa chỉ có nước cuốc bộ - lại “phát tích” một người thơ như thế? Chị Nguyễn Thị Vui - Phó Chủ tịch xã Buôn Triết - nói với tôi: “Lạ lắm chú ạ! Cậu ấy là người đặc biệt. Bệnh tật giày vò thể xác như thế mà lúc nào cậu ấy cũng chỉ nghĩ đến thơ. Mà thơ hay lắm. Cả xã em ai cũng khâm phục. Mà nào cậu ta có được học hành gì nhiều. Mang cái bệnh đi học, gắng đeo đuổi việc học lắm, nhưng đến lớp 11 phải bỏ, vì bệnh đã quá nặng, chẳng thể đi lại được, nhà lại quá nghèo...”. Kể vắn tắt với tôi vậy, rồi chị Vui bảo một cán bộ của UBND xã dẫn tôi đến nhà Hợp.

Quả là nhà Hợp rất nghèo. Bố mẹ Hợp (ông Nguyễn Văn Tuất - 67 tuổi và bà Vũ Thị Khá - 63 tuổi) quê ở xã Mê Linh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, đi kinh tế mới vào đất này định cư từ năm 1977. Đây là vùng đất trũng, sâu nhất huyện Lắc. Bây giờ đã nên xóm nên làng, đường đi lối lại đã khá khang trang, đã có ruộng lúa nước làm 2 vụ. Nhưng ngày ấy, nơi đây chỉ có rừng và sình lầy với bạt ngàn lau lách. Đã thế, bố mẹ Hợp còn đẻ sòn sòn tới 11 đứa con, vì thế cái nghèo cứ đeo đẳng mãi từ ngày ấy tới tận hôm nay.

Căn nhà nghèo mà gia đình Nguyễn Văn Hợp đang sinh sống.
Căn nhà nghèo mà gia đình Nguyễn Văn Hợp đang sinh sống.

Trong khi nhiều hộ khác đi kinh tế mới cùng thời với bố mẹ Hợp bây giờ đã rất khá giả, đã có nhà xây khang trang, kiên cố, có nhiều phương tiện sinh hoạt đắt tiền, thu nhập tới vài ba chục tấn thóc một năm; riêng bố mẹ Hợp vẫn phải ở trong căn nhà gỗ nho nhỏ, lợp ngói, nằm ở rìa đồng. Tài sản trong nhà cũng chẳng có gì đáng kể. Rất tiếc là hôm tôi đến thăm Hợp, cả hai ông bà đều đi làm vắng, nên không được gặp, không được trò chuyện với ông bà để hiểu sâu hơn hoàn cảnh của gia đình và nghe ông bà tâm tình thêm về Hợp. Tiếp tôi chỉ có một người anh trai của Hợp...

...gặp Huệ Nguyên - Nguyễn Văn Hợp

Năm nay Hợp đã 25 tuổi, nhưng trông thật tội nghiệp, cơ thể da bọc xương, chân tay đều teo tóp, vì căn bệnh quái lạ mang tên “loạn dưỡng cơ Duchenne”. Không một bệnh viện nào, không một bác sĩ nào trong nước nhận chữa bệnh cho Hợp, vì là bệnh lạ chưa có phương pháp điều trị, nên Hợp đành chấp nhận số phận, 25 tuổi nhưng chỉ nặng 30kg, không thể đi lại, suốt ngày phải ngồi trên giường và chỉ có thể nhích từng phân trên mặt giường một cách đau đớn, cực nhọc. Mọi sinh hoạt cá nhân của Hợp đều phải nhờ cậy bố mẹ và các anh chị em. Dù vậy, nhìn vào sắc diện và nhất là ánh mắt của Hợp, tôi biết đây là một con người thông minh, giàu ý chí, nghị lực. Điều đó đã được thể hiện qua những trang thơ của Hợp và trong lúc trò chuyện cùng Hợp.

Nguyễn Văn Hợp bên những cây đàn thân thiết của mình do một số bạn bè tặng (ảnh trên).	Ảnh: Đ.B.T
Nguyễn Văn Hợp bên những cây đàn thân thiết của mình do một số bạn bè tặng (ảnh trên). Ảnh: Đ.B.T

Bao giờ Hợp cũng dùng từ chuẩn xác, linh hoạt và hóm hỉnh. Trí nhớ của Hợp cũng rất tuyệt vời. Không chỉ thuộc thơ mình, mà Hợp còn thuộc thơ của rất nhiều tác giả trong và ngoài tỉnh. Tôi có một bài thơ xoàng mang tên Lời con voi trong hội voi, in trên tạp chí Văn nghệ Đắc Lắc từ cách đây 3 năm mà Hợp vẫn thuộc làu làu và đọc cho tôi nghe không sai một chữ, khiến tôi hết sức nể phục và xúc động. Hợp bảo: “Em ở đây đâu có sách báo thường xuyên để đọc. Ai cho em cuốn sách, tờ báo nào em cũng đọc. Đọc đến thuộc thì thôi.

May mắn, cách đây gần 3 năm, em được nhà văn, nhạc sĩ Linh Nga Niê Kdăm thương tình, vận động các nhà hảo tâm giúp đỡ và được ông chủ doanh nghiệp Trí Tín tặng cái máy vi tính, máy được nối mạng Internet, nên em mới được đọc nhiều hơn, hiểu biết nhiều hơn mọi sự kiện diễn ra hằng ngày ở trong nước và trên thế giới; đặc biệt là được đọc thơ của nhiều nhà thơ nổi tiếng trong nước như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy... mà trước đó em chưa được đọc bao giờ”. “Nhưng ai dạy cho Hợp sử dụng máy vi tính?” - tôi hỏi. Hợp cười bẽn lẽn: “Người ta lắp đặt máy cho em xong, chỉ dạy em cách khởi động máy, cách tắt máy, cách truy cập mạng Internet một lần thôi. Sau đó thì em cứ tự mày mò, mày mò nhiều lần rồi cũng “ra vấn đề” thôi anh”...

Một con người chưa học xong lớp 11, lại bị bệnh hiểm nghèo, vô phương cứu chữa, phải nằm, ngồi một chỗ, phó mặc thân mình cho số phận, mà sống không bi quan, vẫn luôn luôn ôm đàn hát, cười một cách vui vẻ, luôn luôn nghĩ tới những điều tốt đẹp, luôn luôn nghĩ về những năm tháng còn lại ở trên đời phải làm việc gì cho có ích, thì đó quả là “người đặc biệt” - đúng như lời chị Vui - Phó Chủ tịch xã Buôn Triết - đã nói với tôi. Đó là lý do khiến Hợp đến với thơ, đồng thời thơ của Hợp cũng phản ánh tất cả những phẩm chất đó. Đến thăm Hợp, tôi càng xúc động và cảm phục hơn khi biết Hợp đã làm đơn gửi Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam xin được hiến giác mạc, hiến xác cho nghiên cứu khoa học...

Thơ của “người đặc biệt”

Lết lại bên cái máy vi tính để ở góc giường, Hợp mở máy cho tôi xem một số bài thơ mới viết và đọc cho tôi nghe một số bài Hợp tâm đắc nhất. Tôi nghe thơ Hợp mà muốn rơi nước mắt: “Mẹ vẫn cõng con như ngày xưa/ Hai mươi bốn tuổi mà như còn bé nhỏ/ Chỉ vì con nên đời mẹ khổ/.../ Chỉ vì con tủi nhục mẹ đã từng/.../ Biết con bệnh chẳng thể nào lành được/ Nên ngậm ngùi mẹ giấu lệ vào tim/.../ Con biết mẹ thường khóc thầm mỗi đêm/ Vì mỗi sáng mắt thâm quầng, hốc hác”... (Mẹ).“Mẹ ơi, vì đâu tóc mẹ pha sương/ Mỏi gối run chân, thân già gầy guộc/ Đời mẹ khổ hoài/ Chỉ bởi con thôi, chỉ tại con thôi!” (Đời mẹ). Tôi nghĩ, đấy không còn là thơ mà là những giọt máu đang rỉ ra trong trái tim của Hợp. Mẹ thương anh, vất vả, khổ đau vì anh. Nhưng anh biết làm gì để đền đáp lòng mẹ? Biết làm gì hơn “Ngoài việc sống vui để mẹ bớt phiền lòng” (Đời mẹ). Có lẽ cũng chính là tình mẹ đã cho Hợp điểm tựa, đã truyền năng lượng sống cho anh, để anh biết “ngồi” trên hoàn cảnh mà “ngạo nghễ cười”.

Cầm tập thơ “Thơ và tôi” (Nhà xuất bản Văn nghệ TP.Hồ Chí Minh ấn hành năm 2010) do Hợp sáng tác và gửi tặng, tôi đã đọc một mạch từ đầu đến cuối. Không có những bài thơ toàn bích, không có những sáng tạo gì đặc biệt trong cấu tứ, hình ảnh, ngôn từ, nhưng bài thơ nào của Hợp cũng làm cho tôi xúc động, bởi những cảm xúc chân thật xuất phát từ sự rung động thực sự của trái tim - một trái tim trong sáng, một tâm hồn nhuần nhị, thuần khiết luôn luôn hướng tới sự trong trẻo, cao đẹp của cuộc đời.

Phải nằm một chỗ, nhìn cuộc đời qua cửa sổ, nhưng Hợp chẳng hề bi lụy, nên thơ cũng rất nhân văn và rất đẹp: “Chút nắng vàng hanh bên bậu cửa/ Mơ màng ru một khoảng trời riêng” (Khoảng trời riêng). Thấy chiếc lá khô rơi, Hợp vẫn nghĩ tới sự cống hiến: “Chiếc lá khô rụng xuống/ Vẫn có ích cho đời/ Khi hiến thân vào đất/ Hoá mỡ màu tốt tươi” (Lá khô).

Giữa đêm mùa khô Tây Nguyên bệnh tật giày vò không ngủ được, vậy mà Hợp vẫn cảm nhận được: “Đêm ấm trầm làn điệu dân ca/ Ta lạc giữa không gian huyền sử/ Rượu cần thơm và lời khan bất tử/ Nhịp chiêng dồn gọi những ngày xuân” (Mùa khô cao nguyên). Thảng hoặc đôi khi nỗi buồn chợt đến, Hợp biết xua đi như một chàng lãng tử: “Này buồn ư?/ Ôm đàn dạo nhạc/ Miệng nghêu ngao khúc hát yêu đời/ Nồng cháy Nguyễn Cường/ Du dương nhạc Trịnh/ Thả hồn bay theo ngọn gió chơi vơi” (Ngày của Hợp). Và rất bản lĩnh Hợp xác định: “Ta là đốm lửa/ Dù sắp lụi tàn/ Vẫn luôn khao khát/ Bùng cháy huy hoàng” (Đốm lửa). 

Đúng là Hợp vẫn đang “bùng cháy huy hoàng” trong “giấc mơ” của Hợp và cả trong cảm phục của bao người!

Hiện nay Hợp đang ở trong hoàn cảnh rất khó khăn, người gầy da bọc xương, nhưng cái đệm nằm cũng không có. Bộ máy vi tính - phương tiện duy nhất để Hợp viết và đọc hằng ngày cũng đã xuống cấp, tốc độ truy cập rất chậm. Hợp cũng đang thiết tha được xuất bản 2 tập thơ nữa (hiện đã có bản thảo). Rất mong các tổ chức, cá nhân có điều kiện giúp đỡ cho Hợp (theo địa chỉ thôn Mê Linh 2, xã Buôn Triết, huyện Lắc, Đắc Lắc. ĐT: 01669771449).


 #

ẢNH MỚI

Tác phẩm: HIÊN NGANG TÂY NGUYÊN

Tác giả: ĐẶNG BÁ TIẾN

 Voi dung si san1.jpg, 160 KB

 #

THƠ MỚI SÁNG TÁC

Thơ Đặng Bá Tiến

YANG PRÔNG*

 

ấy

là giọt nước mắt khổng lồ

là giọt máu khổng lồ

hóa thạch

giữa Rừng Xanh, Ea Súp

 

kẻ hậu sinh

lạc mình

trong chiều rừng cô lẻ

thẫn thờ bên gốc kơ nia

úp mặt vào lòng tay

chìm đắm vào ngàn xưa thăm thẳm

thuở thần Siva lõa thể

bay khắp thế gian hành lễ sinh tồn

đại ngàn bao la đâu cũng chiếu giường

thần vui múa nô đùa cùng dân gian hoan lạc...


 

kẻ hậu sinh chiều nay

úp mặt vào lòng tay

lại nghe gió tự ngàn xưa thăm thẳm

nghe tiếng thần Siva gào lên như sấm

nghe như là cây đổ đá lăn

nghe như là voi điên đang dày nát cõi trần

 và rơi rụng từ giáo gươm xé gió…

 

úp mặt vào bàn tay

mà thấy tả tơi áo khố

nháo nhác vật vờ giữa đại ngàn

những bô lão đói cơm

những trẻ thơ khát sữa

như đàn chim vỡ tổ

đâu mẹ đâu cha

đâu xứ sở quê nhà…

 

bên gốc kơ nia

bàn chân trần của tôi còn nghe đất nấc

tiếng nấc rung vật vã thời gian

vạn năm sau tiếng nấc vẫn chưa tàn

 

+

 

700 năm

“Thần vĩ đại” vẫn còn lẩn khuất

trong ruột đất này

trên đỉnh đồi kia

cả trên những đám mây lang thang cùng trời cuối đất…

 

 

chiều Yang Prông này

vẫn khói hương nghi ngút

lòng người còn nuôi mãi niềm tin:

hồn Siva

giữa thế thái nhân tình

vẫn hiện hữu sinh sôi

chẳng bao giờ hóa thạch!


 

                       Đêm 18.6.2011

 

*Yang Prông: Tên ngọn tháp Chăm được xây dựng từ thế kỷ 13, thờ thần Siva, nằm giữa vùng Rừng Xanh, huyện Ea Súp, Đắc Lắc.Yang Prông còn có nghĩa là Thần Vĩ Đại - tiếng Ê ĐÊ

 #

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10  Sau»